LUẬT THAY ĐỔI – NGƯỜI LAO ĐỘNG NÊN BIẾT VỀ NHỮNG ĐIỀU NÀY

17
19



LUẬT THAY ĐỔI – NGƯỜI LAO ĐỘNG NÊN BIẾT VỀ NHỮNG ĐIỀU NÀY
=================================================
Thực hiện nghị quyết số 57/2018/QH14 của Quốc Hội, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã chủ trì soạn thảo và được Quốc hội thông qua dự thảo Bộ luật Lao động năm 2019 với hơn 90,06% số đại biểu tán thành vào ngày 20/11/2019.
Ngày 16/12/2019, Văn phòng Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tổ chức công bố lệnh số 08/2019/L-CTN ngày 03 tháng 12 năm 2019 về việc công bố Luật.
Bộ luật lao động với 17 chương, 220 điều, đã có nhiều sửa đổi, bổ sung lớn, quan trọng, sẽ có khoảng 14 nghị định, 01 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 07 Thông tư của Bộ Lao động thương binh và xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật.
Bộ luật có 3 nội dung sửa đổi, bổ sung lớn sau:
Một là, Bộ luật đã mở rộng đối tượng điều chỉnh đối với cả người lao động có quan hệ lao động và người lao động không có quan hệ lao động.
Điều chỉnh tất cả người lao đọng có quan hệ lao động với khoảng gần 20 triệu người. Mở rộng áp dụng một số quy định của Bộ luật đối với người lao động không có quan hệ lao động, một số nội dung được áp dụng cho toàn bộ lực lượng lao động xã hội với khoảng 55 triệu người. Ngoài ra, Bộ luật cũng có quy định để mở rộng diện bao phủ và nâng cao khả năng nhận diện người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, dựa trên các dấu hiệu bản chất của quan hệ lao động cá nhân.
Hai là, Bộ luật đã sửa đổi theo hướng phù hợp hơn các nguyên tắc của kinh tế thị trường.
Bộ luật ban hành các tiêu chuẩn tối thiểu ví dụ như tiền lương tối thiếu, thời giờ làm việc tối đa…tạo khung pháp lý để các bên thương lượng về các quyền lợi cụ thể của mình cao hơn mức tối thiểu do Nhà nước quy định; không can thiệp có tính hành chính vào việc quyết định các vấn đề cụ thể của doanh nghiệp như vấn đề trả lương của doanh nghiệp.
Các bên trong quan hệ lao động được tự thương lượng và thỏa thuận về tiền lương và các điều kiện làm việc khác, có quyền quyết định tham gia hay không tham gia quan hệ việc làm, tham gia hay không tham gia tổ chức đại diện, có quyền quyết định về những vấn đề cụ thể của mình.
Ba là, Bộ luật đã bảo đảm phù hợp, tiệm cận với các tiêu chuẩn lao động quốc tế, nhất là các tiêu chuẩn lao động cơ bản
Đó là quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động; Bình đẳng, không phân biệt đối xử trong lao động, nhất là bình đẳng không phân biệt đối xử về giới, tình trạng khuyết tật; xóa bỏ lao động trẻ em, bảo vệ lao động chưa thành niên ở cả khu vực chính thức và không chính thức, có hoặc không có quan hệ lao động.

#VNTB#tintucnhanh#tintuc#thoisu

Nguồn:https://batdongsancom.com/

17 COMMENTS

  1. quy định để mở rộng diện bao phủ và nâng cao khả năng nhận diện người lao động làm việc theo hợp đồng lao động

  2. quy định để mở rộng diện bao phủ và nâng cao khả năng nhận diện người lao động làm việc theo hợp đồng lao động

  3. Ngày 16/12/2019, Văn phòng Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tổ chức công bố lệnh số 08/2019/L-CTN ngày 03 tháng 12 năm 2019 về việc công bố Luật

  4. Điều chỉnh tất cả người lao đọng có quan hệ lao động với khoảng gần 20 triệu người.

  5. Ngày 16/12/2019, Văn phòng Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tổ chức công bố lệnh số 08/2019/L-CTN ngày 03 tháng 12 năm 2019 về việc công bố Luật.
    Bộ luật lao động với 17 chương, 220 điều, đã có nhiều sửa đổi, bổ sung lớn, quan trọng, sẽ có khoảng 14 nghị định, 01 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 07 Thông tư của Bộ Lao động thương binh và xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật.

  6. bình đẳng không phân biệt đối xử về giới, tình trạng khuyết tật; xóa bỏ lao động trẻ em, bảo vệ lao động chưa thành niên ở cả khu vực chính thức và không chính thức, có hoặc không có quan hệ lao động.

  7. quy định để mở rộng diện bao phủ và nâng cao khả năng nhận diện người lao động làm việc theo hợp đồng lao động

  8. những thay đổi này có ý nghĩa thiết thực và hợp lí với tiến trình phát triển của kinh tế Việt Nam, trong đó lực lượng lao động làm nền tảng của mọi tiến bộ trong xã hội,

  9. Đó là quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động; Bình đẳng, không phân biệt đối xử trong lao động, nhất là bình đẳng không phân biệt đối xử về giới, tình trạng khuyết tật; xóa bỏ lao động trẻ em, bảo vệ lao động chưa thành niên ở cả khu vực chính thức và không chính thức, có hoặc không có quan hệ lao động.

  10. bao giờ cũng vậy, xã hội muốn có động lực phát triển thì quyền lợi của giai cấp công nhân, tầng lớp lao động luôn phải được tập trung chú ý đến, sự bình đẳng trong các quan hệ lao động, trong lao động và xóa bỏ lao động trẻ em, bảo vệ lao động chưa thành niên ở cả khu vực chính thức và không chính thức, có hoặc không có quan hệ lao động sẽ góp phần sớm giải phóng sức lao động của lực lượng sản xuất, hoàn thành tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội và sau cùng là chủ nghĩa cộng sản

  11. những thay đổi này có ý nghĩa thiết thực và hợp lí với tiến trình phát triển của kinh tế Việt Nam, trong đó lực lượng lao động làm nền tảng của mọi tiến bộ trong xã hội, vì vậy việc đảm bảo quyền lợi người lao động trong các quan hệ lao động là việc rất quan trọng, bên cạnh đó việc đảm bảo mọi quan hệ lao động theo đúng định hướng kinh tế thị trường, tránh để chệch hướng xã hội chủ nghĩa cũng quan trọng không kém

  12. luật pháp có thay đổi bao nhiêu lần cũng luôn tập trung vào quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động; bình đẳng, không phân biệt đối xử trong lao động, nhất là bình đẳng không phân biệt đối xử về giới, tình trạng khuyết tật; xóa bỏ lao động trẻ em, bảo vệ lao động chưa thành niên ở cả khu vực chính thức và không chính thức, có hoặc không có quan hệ lao động. Đảng và Nhà nước luôn chú ý đến lợi ích của toàn thể nhân dân Việt Nam khi hoạch định các chính sách, đường lối, ban hành pháp luật, …

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here